Thanh Hóa: Mô hình nuôi cá lóc trong bể xi măng

Nhằm từng bước đa dạng hoá các đối tượng trong nghề nuôi trồng thuỷ sản và phổ biến rộng rãi trong quần chúng nhân dân, tập trung vào đối tượng có giá trị kinh tế cao, nhiều hộ dân ở Quảng Đại đã lựa chọn một hướng đi mới, đó là nuôi cá lóc trong bể xi măng.
xem video Đang cập nhật

Quảng Đại là xã giáp biển của huyện Quảng Xương. Nhiều năm qua các hộ dân cư trú tại khu vực bãi ngang trong xã sinh sống bằng nghề khai thác thuỷ sản ven bờ. Sản phẩm thu được thường là các loại cá tạp, cá nhỏ, bán cho các cơ sở làm thức ăn cho gia súc, gia cầm với giá trị thấp. Một vài hộ trong xã cũng đã thử dùng các sản phẩm cá con này để chăn nuôi ba ba và ếch thương phẩm. Tuy nhiên do vốn liếng cũng như quy trình kỹ thuật của bà con còn hạn chế nên nghề nuôi thuỷ đặc sản cũng dần mai một. Nhằm từng bước đa dạng hoá các đối tượng trong nghề nuôi trồng thuỷ sản và phổ biến rộng rãi trong quần chúng nhân dân, tập trung vào đối tượng có giá trị kinh tế cao, nhiều hộ dân ở Quảng Đại đã lựa chọn một hướng đi mới, đó là nuôi cá lóc trong bể xi măng.

Ảnh minh hoạ

Anh Trịnh Văn Nhân là một trong những hộ dân sống gần biển, đất rộng, lao động dồi dào nhưng kinh tế vẫn khó khăn. Năm 2009, được sự giúp đỡ của ông Nguyễn Văn Quyền, hội viên hội Làm vườn và trang trại của tỉnh - một người có thâm niên trong nghề nuôi cá giúp đỡ, tư vấn, anh Nhân đã mạnh dạn vay 15 triệu đồng của ngân hàng để đầu tư xây dựng 50m2 bể nuôi cá lóc. Số lượng con giống đưa về nuôi là 5.000 con, cỡ bằng ngón tay. Với lợi thế nhà ngay sát biển nên nguồn thức ăn cho cá lóc được anh Nhân mua ngay tại bến rất ổn định, giá cả vừa rẻ lại tươi sống. Nhờ đó chỉ sau 4 tháng chăm sóc đàn cá lóc nuôi đạt trung bình 700 – 800 gam/con, tỷ lệ sống đạt 90%. Với giá cá lóc thương phẩm từ 45 – 50.000 đồng/kg trên thị trường hiện nay, gia đình anh Nhân đã có một nguồn thu đáng kể.

Gia đình bà Lê Thị Minh cũng đã nuôi cá lóc được 4 năm. Mặc dù diện tích chỉ có 30 m2 , nhưng bà Minh vẫn thu được hiệu quả kinh tế cao. Ban đầu, theo hiểu biết của bà, con cá lóc chính là cá chuối, một loài cá hoang dã, thường bị triệt tiêu ở các ao nuôi để bảo vệ cá con. Đến nay vừa làm vừa học hỏi đúc rút kinh nghiệm bà Minh đã có vốn kiến thức khá rộng về đối tượng con nuôi này.

Hiện nay ở Quảng Đại hình thức nuôi cá lóc trong bể xi măng đang phát triển khá mạnh. Đã có hàng chục hộ nuôi với mức thu nhập bình quân đạt 50 triệu/hộ/năm. Theo các hộ dân, sở dĩ nghề nuôi cá lóc trong bể xi măng của địa phương phát triển như hiện nay đó là nhờ sự gắn bó chặt chẽ giữa các chủ hộ nuôi với đơn vị cung ứng dịch vụ. Mỗi khi có hộ nào muốn phát triển nuôi cá thì việc đầu tiên đó là ký kết hợp đồng với cơ sở sản xuất cá giống Nguyễn Văn Quyền. Theo đó, cơ sở này sẽ cung cấp cá giống đảm bảo chất lượng. Trong quá trình nuôi nếu cá bị dịch bệnh, cơ sở sẽ cử cán bộ xuống tận nơi để hướng dẫn bà con cách phòng trừ. Đặc biệt các hộ nuôi cá tại Quảng Đại rất yên tâm về thị trường đầu ra vì đã có đơn vị dịch vụ đứng ra lo bao tiêu sản phẩm.

Với những lợi thế về thị trường tiêu thụ, điều kiện kinh tế của người nuôi và đặc thù sản xuất nông nghiệp, có thể khẳng định nuôi cá lóc trong bể xi măng là hướng đi phù hợp và đạt hiệu quả kinh tế cao. Ưu điểm của phương thức nuôi cá lóc trong bể xi măng có thể nhìn thấy như: dễ kiểm soát được môi trường nước và dịch bệnh, chủ động được nguồn nước và ít rủi ro do thiên tai do đó có thể tăng vụ nuôi. Tuy nhiên để nuôi cá đạt hiệu quả kinh tế cao thì vấn đề đảm bảo con giống tốt, kỹ thuật nuôi đòi hỏi quy trình khá chặt chẽ. Chỉ cần từ 20 m2 trở lên là có thể xây bể nuôi. Bể xây không cần cầu kỳ, chỉ cần láng nhẵn phần nền, có bờ gạch bao quanh với chiều cao từ 60 cm trở lên. Trong mỗi bể nuôi cần thiết kế hệ thống cống cấp và thoát nước. Bể nuôi tốt nhất nên thiết kế mái che bằng các loại vật liệu như bạt và nilon để chống nóng cho cá. Vì cá nuôi trong bể với mật độ cao nên cần định kỳ thay nước cho cá 1 đến 2 lần/ngày sau mỗi bữa ăn. Thức ăn cho cá lóc chủ yếu là cá tạp, và các loại thức ăn công nghiệp. Giai đoạn còn nhỏ cá thường hay bị bệnh nên vấn đề đảm bảo tiêu chuẩn nguồn thức ăn cho cá là rất quan trọng.

Cách phòng bệnh tốt nhất cho cá là duy trì môi trường nước sạch sẽ. Ngoài ra, cá lóc hay bị bệnh viêm đường ruột và nấm, do đó bà con có thể phòng trị bệnh cho cá bằng cách cho cá ăn thuốc chống nấm 5 ngày/lần. Nên hạn chế tối thiểu việc dùng kháng sinh cho cá, cần định kỳ dùng lá xoan hoặc cây cỏ mực giã nhỏ vắt lấy nước trộn vào thức ăn cho cá liên tục từ 3 – 4 ngày, sau đó dùng bã của lá thả vào bể nuôi cá để phòng bệnh. 

Qua kết quả của mô hình cho thấy việc nuôi cá lóc trong bể xi măng có lợi nhuận tương đối cao, hiệu quả kinh tế lại lớn, chi phí đầu tư nuôi cá lóc không nhiều, không đòi hỏi diện tích nuôi quá lớn, hơn nữa, mô hình này khá phù hợp với điều kiện tự nhiên ở các vùng đồng bằng, ven biển, mỗi hộ chỉ cần 10 m2 bể trở lên thì cũng có thể nuôi đối tượng này nhằm cải thiện đời sống và tạo công ăn việc làm cho bà con nông dân. Đây chính là hướng thoát nghèo mới, tạo việc làm cho nhiều hộ dân, vì vậy cần nhân rộng mô hình tại các xã trong huyện cũng như các địa phương khác trong tỉnh.

Tuy nhiên,để phát triển nghề nuôi cá lóc bể có tính bền vững cần chú ý một số lưu ý sau:

- Việc thay nước hàng ngày cần phải tuần thủ nghiêm ngặt. Lưu ý trong những ngày nhiệt độ không khí tăng cao các hộ nuôi cần nâng mực nước trong bể lên cao để nhiệt độ nước trong bể được mát.

- Phải chủ động được nguồn thức ăn tươi sẵn có nếu không cần phải có tủ lạnh để cấp đông. 

- Thực hiện chăm sóc theo “Nguyên tắc 4 định”: Định thời gian cho ăn, định vị trí cho ăn, định số lượng thức ăn và định chất lượng thức ăn.

- Trong quá trình nuôi cần phải kiểm tra cá hàng ngày, đến thời kỳ cá lớn có thể thu tỉa nếu cá vượt đàn để tránh hiện tượng cá ăn thịt lẫn nhau.

- Trong thời điểm giao mùa cần phải lưu ý tới sức khoẻ của cá, nên bổ sung thêm VitaminC vào các bữa ăn để tăng cường sức đề kháng cho cá. 

Thu Hiền - TTKN Thanh Hóa

 

 


Liên hệ
Địa chỉ
:
Email
:
Điện thoại
:
Các kinh nghiệm KHCN cùng lĩnh vực